
Nguyên tác: Tử Bình Chính Tông – Hoàng Đại Lục
Tác giả: Hoàng Đại Lục
Dịch và Bình chú: Hà Phong
—
“**Chân Thuyên” viết rằng: **
Hỉ Thần là gì? Trong Mệnh cái gì gọi là Hỉ Thần đây? Chính là cái mà nhờ đó Ta có được sự trợ giúp vậy.
Như là Quan dụng Ấn để chế Thương, mà vận trợ Ấn;
Tài sinh Quan mà Thân khinh, mà vận trợ Thân;
Ấn kèm Tài, Tài là Kị, mà vận thì đoạt Tài;
Thực đới Sát thành cách, nếu Thân khinh mà gặp Ấn, nếu Sát trọng mà vận trợ Thực;
Thương Quan bội Ấn, mà vận hành Quan Sát;
Dương Nhận dụng Quan, mà vận trợ Tài;
Nguyệt lệnh Kiếp dụng Tài, mà vận hành Thương Thực;
…
Những kiểu như này, đều là vận tốt đẹp cả.
—
Đoạn trong Tử Bình Chân Thuyên này có 4 tầng ý nghĩa:
1. Dụng Thần sinh trợ Tướng Thần:
“Như là Quan dụng Ấn để chế Thương, mà vận trợ Ấn”, ý tứ là, Chính Quan cách gặp phải Thương Quan là Kị Thần đến phá cách, nhưng Mệnh cục có Ấn Tinh là Tướng Thần đến chế trụ Thương Quan, bảo vệ Chính Quan cách, nếu như Đại-vận gặp Quan Sát đến sinh trợ Tướng Thần là Ấn tinh, lúc này Quan Sát chính là Hỉ Thần.
Hà Phong: Cùng là Quan, nhưng khi xét trên Nguyên-cục thì là cách cục, mà khi xét ở Đại-vận thì là Hỉ Thần, điểm này rất phải chú tâm.
“Thương Quan bội Ấn, mà vận hành Quan Sát”, câu này ý nghĩa cũng tương tự, chính là Thương Quan là Dụng Thần, Ấn tinh là Tướng Thần, tạo thành Thương Quan bội Ấn cách, Đại-vận có Quan Sát đến sinh trợ Tướng Thần là Ấn tinh, lúc này Quan Sát chính là Hỉ Thần.
2. Hỉ Thần sinh trợ Dụng Thần:
“Thực đới Sát thành cách, nếu Thân khinh mà gặp Ấn, nếu Sát trọng mà vận trợ Thực”, chính là Nguyệt lệnh Thực Thần và Thất Sát cấu thành Thực Thần chế Sát cách, nếu như Tướng Thần là Thất Sát quá nặng/mạnh, mà Dụng Thần là Thực Thần quá nhẹ/yếu, mà Đại-vận gặp Tỉ Kiếp sinh trợ Thực Thần, lúc này Tỉ Kiếp chính là Hỉ Thần.
“Dương Nhận dụng Quan, mà vận trợ Tài”, ý tứ là Dương Nhận cách nếu như có Quan tinh là Dụng Thần, cấu thành Dương Nhận dụng Quan cách, Đại-vận gặp Tài tinh đến sinh trợ Dụng Thần (Quan tinh), lúc này Tài tinh chính là Hỉ Thần.
“Nguyệt lệnh Kiếp dụng Tài, mà vận hành Thương Thực”, chính là Dương Nhận cách nếu không có Quan tinh, nhưng có Tài tinh làm Dụng Thần, Đại-vận gặp Thực Thương đến sinh trợ Dụng Thần là Tài tinh, lúc này Thực Thương chính là Hỉ Thần.
3. Hỉ Thần khắc chế Kị Thần:
“Ấn kèm Tài, Tài là Kị, mà vận thì đoạt Tài”, câu này là muốn nói, Ấn cách gặp phải Kị Thần là Tài tinh đến tổn Ấn phá cách cục, nhưng nếu có Tỉ Kiếp đến chế Tài bảo vệ Ấn, lúc này Tỉ Kiếp chính là Hỉ Thần.
4. Hỉ Thần sinh trợ Nhật chủ:
“Tài sinh Quan mà Thân khinh, mà vận trợ Thân”, ý tứ là Tài tinh có Quan tinh, nhưng Thân khinh/yếu không có lực để đảm đương Tài Quan, Đại-vạn gặp Ấn Tỉ trợ Thân, lúc này Ấn Tỉ chính là Hỉ Thần.
—
Đem 4 điểm trên qui nạp lại, thì cái gọi là Hỉ Thần chính là: hỗ trợ Tướng Thần và tùy thời hỗ trợ Dụng Thần cùng Nhật chủ, cũng có thể là khắc chế Kị Thần.
Tướng Thần và Kị Thần là một cặp “mâu thuẫn”, Tướng Thần thì muốn thành cách (cho Mệnh cục), Kị Thần thì đến để phá cách. Hỉ Thần hỗ trợ cho Tướng Thần, Cừu Thần thì hỗ trợ Kị Thần, vì vậy mà Hỉ Thân và Cừu Thần cũng là một cặp “mâu thuẫn”.
Các cặp “mâu thuẫn”, đều hoạt động xung quanh Dụng Thần và Nhật chủ, đều từ đó mà triển khai lực lượng, phô diễn công năng.
**Cừu Thần có 3 loại tác dụng: **
Một là sinh trợ Kị Thần;
Hai là khắc chế Hỉ Thần;
Ba là tùy lúc mà tạo ra sự bất lợi với Nhật chủ.
—
**Dưới đây là 1 ví dụ: **
Nam mệnh, Bát tự (năm, tháng, ngày, giờ) lần lượt là Ất Sửu, Quý Mùi, Bính Tuất, Nhâm Thìn.
Bát Tự có 1 Quan 1 Sát (Quý là Quan, Nhâm là Sát); mà cần nhớ “phùng Sát khán Ấn”, trụ năm có Ất Mộc Ấn tinh. Vốn dĩ có thể hình thành Sát Ấn tương sinh cách, nhưng vì Sửu Mùi xung nhau, Tân Kim trong Sửu “ám tổn” (âm thành phá hoại) Ất Mộc trong Mùi, cho nên là phá cách.
Lúc Sát là Dụng Thần, Ấn là Tướng Thần, Tân Kim Tài tinh phá cách là Kị Thần, mà sinh trợ Kị Thần Tân Kim là Sửu Tuất Thổ chính là Cừu Thần. (Hà Phong: Sửu Tuất Thổ đều tàng Tân Kim, khác với Mùi Tuất Thổ.)
Trong Mệnh lý Ất Mộc đại biểu cho thần kinh bị thụ thương, là dấu hiệu Mệnh chủ sẽ có thể có vấn đề nghiêm trọng về thần kinh.
1 tuổi, 2 tuổi, lưu niên là Bính Dần, Đinh Mão. Nhờ Dần Mão mà Tướng Thần Ất Mộc có căn, Mệnh chủ chưa xuất hiện vấn đề gì lớn.
3 tuổi, lưu niên là Mậu Thìn, lúc này Thìn Tuất Sửu Mùi tứ Thổ cùng động (tề động), Thổ động thì Mộc gẫy Hỏa tiết, khí thế của Cừu Thần hung hăng vô chế, Mệnh chủ bị viêm màng não, để lại di chứng nghiêm trọng.
Kết luận:
Trong Bát Tự này, Thổ được tính là gì đây? Đã không phải là Dụng Thần hay Hỉ Thần, cũng chẳng là Kị Thần và Nhàn Thần, càng không phải là Tướng Thần để hình thành cách cục. Ôi, chính là Cừu Thần vậy.
Ảnh đính kèm là tôi viết lại ví dụ ở file Excel.
Chúc anh chị em cùng nhau học hỏi và bổ sung vui tươi ^^


Để lại một bình luận