Tượng Nghĩa của Tỉ Kiếp
(Biểu tượng và ý nghĩa của Tỉ Kiếp)
Nguyên tác: Tử Bình Chính Tông – Hoàng Đại Lục
Dịch, nhuận sắc và bình chú: Hà Phong
Tỉ Kiếp là thứ giống với ta, vừa là lực trợ giúp ta, cũng vừa có thể phân chia và tranh đoạt tài vật với ta. Phàm tất cả những gì giúp đỡ ta, trở ngại ta, cùng ta cạnh tranh, cùng ta phân chia và tranh đoạt, đều là biểu thị của Tỉ Kiếp. Như là đồng bạn, đồng bọn, bạn học, đồng sự, đồng liêu (bạn cùng làm quan), đồng đảng, đồng minh, đồng đạo (chung một con đường), đồng hành, hàng xóm láng giềng, bạn chiếu đấu, cổ đông, người hợp tác, người đại diện, người thay thế/thế thân, tình địch, đối thủ, người cạnh tranh, kẻ uy hiếp, người lên tiếng ủng hộ, người hỗ trợ, người gây trở ngại, kẻ mạo danh, lan can, tường ngăn, vật chướng ngại trên đường, bụi rậm chắn lối đi, kênh rạch địa giới, đường ranh giới, chân tay giả, hàng giả, sản phẩm phục chế, sản phẩm bắt chước; cho đến thi đấu, cạnh tranh, cãi lộn, đánh nhau, cướp đoạt, chiếm cứ, phân chia, phân tách, uy hiếp, hỗ trợ, nhân khí (人气)… đều là do Tỉ Kiếp đại biểu vậy.
—
Tỉ Kiên khi xuất hiện ở Địa chi thì gọi là Lộc nguyên (元 – Nguyên: to lớn), mang ý của tước lộc (chức tước và bổng lộc). Mệnh cục nếu như không có Quan tinh, thông thường sẽ lấy Lộc thay thế Quan để luận bàn vậy. Vì thế, cổ nhân rất coi trọng Địa chi có Tỉ Kiên. Lộc ở chi năm gọi là Tuế Lộc, ở chi tháng gọi là Kiến Lộc (建禄), tại chi ngày gọi là Chuyên Lộc, tại chi giờ gọi là Qui Lộc. Phàm Thập Thần gặp Lộc thông thường đều là việc tốt, ví như:
“Can ngày tọa Lộc, cắm đất mà dựng nhà” (日干坐禄, 杖地造屋 – đoạn này dịch chưa an lòng, cần xem lại);
“Nhật chủ Lộc ở chi giờ mà không có Quan tinh, kêu là thanh vân đắc lộ” (日禄归时没官星, 号曰青云得路); (thanh vân đắc lộ là có được con đường quí phái, ví với mây xanh vậy.)
“Chính Quan đắc Lộc, lấy được chồng tất là quí nhân”;
“Thiên Tài đắc Lộc, cha tất vinh hiển”;
“Tỉ Kiên đắc Lộc, anh em có cao danh”;
“Thực Thần đắc Lộc, có con tất vinh hiển”;…
Nếu như Bát Tự không có Lộc rõ ràng, liền dùng các phép như: giáp, xung, hợp… để tìm ra Lộc. Ví dụ như Giáp thì Lộc tại Dần, Bát Tự không có Dần; nhưng nếu như có Sửu và Mão (ở sau và trước Dần), lúc này thì Sửu và Mão sẽ giáp (kẹp) và lôi Dần ra (Dần vốn dĩ không gặp trên Nguyên cục), gọi là “giáp Lộc”. Hoặc như Mệnh cục không có Dần, nhưng có 3 chữ Thân, lúc này liền có thể xung (ép) và khiến Dần phải xuất hiện, gọi là “xung Lộc”. Ngoài ra, còn đủ thứ Lộc như: củng Lộc, ám Lộc, hư Lộc, chính Lộc, thực Lộc, kim Lộc, Hỉ thần Lộc, quí thần Lộc, phục quí Lộc (伏贵禄), phục Mã Lộc, phục nhận Lộc, trưởng sinh Lộc, vượng mã Lộc, sinh thành Lộc, đức hợp Lộc, tiến thần Lộc, tử quỉ Lộc, đại bại Lộc, cửu thiên khố Lộc (九天库禄), bão Lộc (饱禄), “Lộc đói” (饥禄),… Người sơ học trước tiên không cần phải quản lắm thứ Lộc như vậy, chỉ cần biết Tỉ Kiên ở Địa chi ý nghĩa là: tước lộc, bổng lộc, lợi lộc… là đủ rồi.
Về phương diện lục thân:
Với nam mệnh: Tỉ Kiên là anh em trai.
Với nữ mệnh: Tỉ Kiên là chị em gái.
Về mặt tâm tính:
Tỉ Kiên khi là hỉ mà không bị phá tổn, biểu hiện là: lòng tự tôn cao, độc lập tự chủ, lạc quan tiến thủ, kiên nghị bất khuất, cứng rắn mà không lỗ mãng, quả cảm mà không vội vàng, cạnh tranh công bình, bình tĩnh không hư giả, tự tin và có triển vọng, độc lập không theo số đông, sủng ái thuộc hạ, rất được lòng người, dám bước về phía trước, 权通不足 (4 chữ này chưa dịch được).
Tỉ Kiên khi là kị mà không có chế, biểu hiện là: ý thức tự tôn quá lớn, bảo thủ cố chấp tự cho mình là đúng, trong mắt không coi ai ra gì, tâm khí nôn nóng (心浮气燥), khả năng tự khống chế kém, lòng công kích mạnh, giao kết bằng hữu tràn lan, tiêu pha vô độ, ưa thích tranh đấu, không chịu quản thúc, đầu cơ trục lợi, tham lam nhiều thứ và muốn mau chóng có được điều mình muốn (贪多求快), hành sự thiếu mưu kế, thô lỗ không tao nhã, chẳng được lòng người (人气欠佳 – nhân khí nghèo nàn)…
Về mặt hành vi:
Tỉ Kiên thể hiện là: thi đấu công bình, cạnh tranh công bình, cùng nhau chiếm cứ, cùng nhau phân chia, liên hợp hành động, hỗ trợ lẫn nhau, thoái thác lẫn nhau, đối kháng lẫn nhau, noi gương lẫn nhau, cãi lộn lẫn nhau, viện trợ lẫn nhau, uy hiếp lẫn nhau, quấy nhiễu lẫn nhau, can thiệp lẫn nhau, cùng nhau liên minh, cùng nhau kết bạn, cùng nhau giao lưu, cùng nhau học tập, cùng nhau cạnh tranh; cho đến việc: ngừng kinh doanh, đình công, ngừng sản xuất, đình chỉ công tác tạm thời, ngừng lương, dừng học, đi nghỉ (kì nghỉ), mất lòng tin (thất tín), mất đồ vật/con vật, thất tình, có người thứ 3 chen chân vào (mối quan hệ), làm quen với bạn mới, khoản tiền cho vay, tụ hội, tiêu tiền, đòi nợ…
—
Kiếp Tài và Tỉ Kiên có chút khác biệt (稍有差异), trợ lực của Kiếp Tài nhỏ hơn Tỉ Kiên một chút, mà lực phá hoại so với Tỉ Kiên lại lớn hơn một chút.
Tỉ Kiên có ý tứ của kề vai nắm tay (cùng nhau đi, cùng nhau gánh vác), liên thủ cùng tiến (联手共进), tính thì thiên về ôn hòa và ổn định. Kiếp Tài thì có ý tứ của tranh đoạt và phân chia, tính thiên về cường cường và nôn nóng, cho nên Kiếp Tài gọi là Dương Nhận, ý tứ chính là giống như một thanh đao vậy. Thông thường đem Dương Nhận, Thất Sát, Thương Quan cùng xem vậy (chúng cùng có những điểm hung tương tự nhau), thậm chí 3 thần này còn là thông tin quan trọng của “dấu hiệu” về tiêu chí: khắc cha, khắc vợ, khắc tài và rước họa, thương tổn thân thể.
Kiếp Tài đại biểu cho bạn khác giới có sự trợ lực không lớn, bạn cùng học có quan hệ tương đối kém, đồng nghiệp, đồng bọn, đồng liêu, cổ đông hoặc người hợp tác phân chia lợi ích lớn (分利较多的股东或合伙人), người trợ uy thanh thế không lớn, người ủng hộ, giặc cướp hung hãn, côn đồ, lưu manh, kẻ sách nhiễu, đối thủ cạnh tranh lợi hại, kẻ lừa bịp trong số người quen thuộc, trộm cướp, hàng xóm bất lợi đối với ta, người đại diện, kẻ đầu cơ, người đàn ông góa vợ, người phụ nữ góa chồng, người làm công việc tự do, người lao động chân tay, kẻ chen chân vào hôn nhân… đều do Kiếp Tài đại biểu vậy.
Về phương diện lục thân:
Với nam mệnh: Kiếp Tài là chị em ruột.
Với nữ mệnh: Kiếp Tài là anh em ruột.
Về mặt tâm tính:
Kiếp Tài cương cường, là sao của hành động, biểu hiện là rất có khẩu tài và có sức hành động quả cảm, giỏi về việc tạo không khí trong các môi trường khác nhau, không chế cục diện, để mà “hiển thị” sự tồn tại của bản thân. Khác với Tỉ Kiên thật thà chất phác, Kiếp Tài có thể gặp sóng gió thì chủ động lèo lái, lựa ý theo sở thích của người khác, đem những điều bất mãn cất giáu trong nội tâm.
Kiếp Tài khi là hỉ mà không bị phá tổn, biểu hiện là: hùng tâm bừng bừng, vĩnh viễn không chịu thua, ngoan cường tiến bước, độc lập và có phẩm chất khác người (独立特行), tinh lực dồi dào, lòng chiếm hữu mạnh, nhiệt tình thẳng thắn, giỏi trong giao tế, có sở trường tùy cơ ứng biến. Kiếp Tài có hai tính cách song song cùng hiển lộ, nội tâm thường có trạng thái mâu thuẫn, có lúc đa sầu đa cảm, trách trời mà thương người (悲天悯人), có lúc thì tranh đấu mãnh liệt, hạ thủ vô tình; có lúc thì bố thí rộng rãi, trượng nghĩa khinh tài, có lúc thì lừa gạt cưỡng đoạt, hoàn toàn không có nghĩa khí; có lúc là chính nhân quân tử, có lúc là vô lại tiểu nhân; đối với người thân thì lãnh đạm khắc bạc, đối với người ngoài thì khảng khái nhiệt tình; có lúc thì tâm cao chí ngạo, cậy thế khoe uy, có lúc thì đa nghi sợ việc, gặp sóng gió thì bẻ lái (không dám tiến bước). Tình cảm thì thường thay đổi, khó có thể nắm chắc, dễ có được bạn mà cũng dễ mất bạn.
Kiếp Tài khi là kị mà không có chế, biểu hiện là: lỗ mãng cương cường, cả gan làm loạn (胆大妄为), muốn làm là làm, làm xong mới nói, tính công kích mạnh, thích dùng vũ lực để giải quyết vấn đề, thô tục vô lễ, thay đổi bất thường. Đối với tài vật, với vợ con không quá trân trọng, lúc mà chưa có được thì khát khao có được, có được rồi thì lại “có cũng được mà không có cũng chẳng sao”…
Về mặt hành vi:
Kiếp Tài biểu hiện là: cạnh tranh kịch liệt, dốc sức toàn thân (使劲打拼), gắng sức cướp đoạt, đánh đập tàn nhẫn, công kích mãnh liệt, ngoan cường chống đỡ, chiếm hữu điên cuồng, ra sức phân chia, kéo bè kéo cánh, bài xích kẻ khác mình, cùng với người đi lừa gạt, kết đảng tư lợi, bãi công tập thể, đoàn kết chống bạo lực, dụ dỗ cưỡng bức, hủy hoại ác ý, tiêu pha phung phí, cờ bạc trai gái “mãnh liệt”, quấy rầy không ngừng, dọa dẫm sách nhiễu, kết thân người khác giới, tình cảm ngoài luồng, phân chia tài sản, tự tay vận hành (动手操作), tự mình thể nghiệm…
—
Tác dụng của Tỉ Kiếp là: trợ giúp Nhật chủ, sinh trợ Thực Thương, khắc Tài, tiết Ấn.
Mặt tốt của Tỉ Kiếp, chính là mặt tốt của việc cùng người hợp tác, được người cổ vũ vậy. Tỉ Kiếp chính là bạn bè tốt, anh em tốt, bạn bè sống chết có nhau, cổ đông. Tỉ Kiếp đại biểu cho con người, có được lực của Tỉ Kiếp, tức là có được nhân khí/lòng người. Có được lòng người, thiên hạ cái có việc gì không thể hoàn thành đây? Cho nên những nhân vật thành danh, tuyệt đại đa số đều là trên Mệnh cục hỉ/ưa thích Tỉ Kiếp vậy. Lại nói Tỉ Kiếp là căn/gốc của Nhật chủ, có gốc tất tự mình có chỗ đứng, tự mình có địa bàn/căn cứ địa, không cần phải nương tựa vào người khác, có thể tự lập tự cường, có thể tự mình chống đỡ được một khoảng trời riêng. Mệnh cục mà Nhật chủ mà không có căn, một đời phải nhờ người mới thành tựu, tự mình không thể bạch thủ thành gia. Tỉ Kiếp cũng là sự cạnh tranh, trên thế giới này nều không có sự cạnh tranh, thì cũng chẳng có cái gọi là sinh khí và sức sống (生气与活力), cho nên công lao của Tỉ Kiếp là không thể xóa bỏ được.
Mặt xấu của Tỉ Kiếp, chính là mặt xấu mà việc cạnh tranh mang tới. Anh tranh tôi đoạt, cá lớn nuốt cá bé, thắng làm vua mà thua làm giặc, xem đời người như là chiến trường. Tỉ Kiếp chính là thổ phỉ, chính là đối thủ một mất một còn, chính là oan gia ngõ hẹp, chính là con bạc lớn.
—
Tượng nghĩa căn bản của Thập Thần cần từ từ hấp thụ, cần đem các mối quan hệ của con người trong đời thực và quan hệ tương hỗ của Thập Thần mà đối ứng luận đoán, mà tìm hiểu. Cần biết rằng mối quan hệ giữa con người với nhau rất phức tạp, lắm tinh vi thì mối quan hệ của Thập Thần cũng rất phức tạp và tinh vi như vậy.
Ảnh từ google nha ^^