Nguyên tác: Tử Bình Chính Tông – Hoàng Đại LụcTác giả: Hoàng Đại Lục
Dịch, nhuận sắc và bình chú: Hà Phong
Ví như khi can ngày là Giáp, nếu: Sinh vào tháng Kim, thì Dụng Thần là Quan Sát; sinh vào tháng Hỏa, thì Dụng Thần là Thực Thương; sinh vào tháng Thủy, thì Dụng Thần là Ấn Thụ… Cái gọi là Quan Sát, Thực Thương, Ấn Thụ ở đây chính là Dụng Thần, cũng là “vật” định ra Cách Cục.
“Vật” khả dụng ở Nguyệt Lệnh có 6 dạng, tức là: Tài (Chính Tài/Thiên Tài), Quan, Sát, Ấn (Chính Ấn/Thiên Ấn), Thực, Thương. Cổ nhân lấy đó là 6 Cách Cục chính. Nếu dùng một câu để tổng kết, thì chính là chỉ trừ ra Tỉ Kiếp thì “vật” gì trong Nguyệt Lệnh cũng đều có thể chọn lấy làm Dụng Thần. Nếu như Nguyệt Lệnh là Tỉ Kiếp, chính là biểu thị Nguyệt Lệnh không có Dụng Thần. Lúc này cần tìm 6 thứ: Tài, Quan, Sát, Ấn, Thực, Thương ở ngoài Nguyệt Lệnh, mà đem làm Dụng Thần.
Hà Phong: Trong 6 Cách Cục chính lại thành những cách nhỏ hơn như: Thực Thần chế Sát cách, Thương Quan bội Ấn cách, khí Ấn tựu Tài cách,…
—
<Nguyệt Đàm Phú> có nói: “Cách Cục có cái có thể lấy, có cái không thể lấy; Dụng có cái đáng bỏ, có cái không đáng bỏ”.
<Tứ Ngôn Độc Bộ> rằng: “Cách Cục suy cho tường tận, lấy Sát làm trọng, hóa Sát là quyền, có tổn hại gì mà phải lo?”. Cái gì hóa Sát thành quyền vậy, mà từ đó không còn phải lo việc Dụng Thần bị tổn thương?
Dụng Thần mà cổ nhân nói tới, chính là “vật” khả dụng trong Nguyệt Lệnh, cho nên sẽ có lúc xuất hiện tình huống Dụng Thần quá nhiều, quá nặng; lúc này nhất thiết phải khắc phải tiết (tiết khí), thậm chỉ là bỏ đi chẳng dùng.
Ví dụ như ngày Giáp sinh tháng Tý, Ấn Thụ Thủy khí ở trong Tý chính là Dụng Thần, nhưng nếu như trong Nguyên Cục (năm tháng ngày giờ) có tới 2, 3 Hợi Tý Thủy, chính là lúc Dụng Thần quá nhiều vậy, tình huống này nên lấy Tài tinh để mà khắc Ấn, chính là cách “khí Ấn tựu Tài”, chính là cái ý “Dụng Thần có thể bỏ, có thể lấy”.
<Trích Thiên Tủy> mục <Thể Dụng> có một đoạn nguyên văn như sau: “…nếu có tới 2, 3, 4, 5 Dụng Thần, thì đích thực là không phải mệnh tạo tốt”, ý tứ chính là khi Dụng Thần trong Nguyệt Lệnh xuất hiện tới 4, 5 thứ trong Nguyên Cục, thì khó lòng là mệnh tốt vậy. Ví dụ như Nguyệt Lệnh là Ấn tinh, có 2, 3 Ấn thì có thể “khí Ấn tựu tài”; nhưng nếu đạt đến mức có 4, 5 Ấn, thì Tài tinh không cách nào khắc Ấn cho nổi, tốt nhất là lấy Tỉ Kiếp là tiết Ấn, điều này chính là điều <Cùng Thông Bảo Giám> muốn nói: “Phàm Dụng Thần quá nhiều, thì không nên khắc chế, mà lấy việc tiết làm tốt đẹp”. Tất nhiên Ấn quá nhiều, một là không có Tài khắc, hai là không có Tỉ Kiếp tiết, thì nhất định không phải là mệnh tốt.
—
Trong Bát Tự, cái mà phản ánh thời tiết khí hậu chính là Nguyệt Lệnh. Trong Bát Tự, Nguyệt Lệnh chỉ là một chữ (chi tháng), nhưng nó vừa là cung Phụ Mẫu, cũng lại là cung Huynh Đệ, cung Mệnh từ đây mà khởi lên, Thai Tức từ đây mà phát triển, Bát Tự Vượng Suy cũng nhờ nó mà định, vận trình Đại-vận cũng từ nó mà an bài… Dụng Thần đầu tiên là phải từ Nguyệt Lệnh mà tìm, chính là việc cổ nhân rất xem trọng Nguyệt Lệnh vậy.
Đem Nguyệt Lệnh gọi là Đề Cương (rường mối của Mệnh), cho nên chỉ cần nắm chắc được Nguyệt Lệnh, đem nó làm tổng cương lĩnh để khán mệnh, thì khác nào nắm được cái then chốt của Mệnh Cục đâu?
Nguyệt Lệnh là cung Phụ Mẫu Huynh Đệ, nên tôi dám khẳng định rằng đây là nơi có nhiều thông tin về Tiên Thiên, về di truyền nhất. Nguyệt Lệnh Dụng Thần, ở một mức độ vô cùng lớn, chính là phản ánh bản tính mà cha mẹ di truyền cho mệnh chủ vậy.
Hà Phong: Quí bạn có thể tìm hiểu về 12 cung Hoàng Đạo của phương Tây (hoặc phương Đông), để cùng biết rằng 12 tháng tiết-khí chính là 12 loại thời tiết vậy.
—
Tổ hợp của Bát Tự rất nhiều, cổ nhân đã tốn bao tâm huyết để rồi từ vô số kết cấu của mệnh thức mà tìm ra Đề Cương luận mệnh; từ sự tản mát của mệnh thức mà xâu chuỗi nó lại; rồi tiến hành phân loại giải thích, khiến cho phương pháp luận mệnh càng ngày càng trở nên đơn giản rõ ràng (简明), trực diện, và có trình tự. Vì vậy mà việc luận mệnh trở nên dễ dàng thực hiện, cũng dễ dàng học tập. Nhờ thế mà trình độ đoán mệnh càng ngày càng nâng cao.
Thực tiễn đã chứng minh; phàm là người có Bát Tự “Cách chân Cục thanh”, chỉ cần vận hạn không có phá hoại, thì mức độ phú quý rất lớn; phàm Bát Tự Cách Cục hơi kém chân thanh, chỉ cần vận hạn có thể sửa chữa bồi đắp, thì phú quý cũng tương đối lớn, chỉ là lên xuống bất định mà thôi; phàm Bát Tự Cách không ra Cách, Cục chẳng thành Cục, thì dù vận hàn có được bổ cứu, cũng chẳng qua được bình an, ăn no mặc ấm mà thôi, còn nếu như vận hạn hơi xấu một chút, tất thì lắm tai nhiều nạn, phi bần tắc yểu vậy.
Cùng là một vận tốt, có người thì giàu có như vua chúa, sang trọng như vương hầu, mà có người chỉ là tiểu phú tiểu quí, hoặc gắng gượng đủ ăn đủ mặc mà thôi.
Cùng là một vận xấu, có người thì tuy kinh sợ mà chẳng có gì hung hiểm, hoặc là tai nhỏ nạn bé, vậy mà có người thập tử nhất sinh, hoặc sống chẳng bằng chết.
Nguyên nhân đều là sự cao thấp của Mệnh Cách. Người có Mệnh Cách cao, khi gặp vận xấu, thì trong mắt người thường là tai hung họa hiểm, nhưng chính bản thân mệnh chủ thì chỉ coi đó nhưng những con mưa bụi. Nếu như chúng ta có thể nắm chắc được sự cao thấp thành bại của Cách Cục, thì việc đoán cát hung họa phúc sẽ càng gần với thực tế.
<Uyên Hải> có phương pháp từ Cách Cục mà luận về sinh tử như sau: “Ấn Thụ gặp Tài, hành Tài vận mà lại là Tử Tuyệt, tất phải đến nơi suối vàng, nếu như có Tỉ Kiếp, thì có thể giải trừ được mấy phần”; “Chính Quan gặp Sát và Thương Quan, hình xung khắc hại, tuế vận cùng đến tất phải chết”; “Chính Tài Thiên Tài gặp bị Tỉ Kiếp chia nhau đến đoạt, Kiếp Tài Dương Nhận, lại gặp tuế vận xung hợp tất định tử vong”…
Xem ra, lấy Nguyệt Lệnh đoán sinh tử, đoán tai họa, chính là đại pháp cổ truyền chính tông.
Hà Phong: Nguyên văn đoạn người có Mệnh Cách cao khi gặp đại hung hiểm, họ chỉ coi như là cơn mưa bụi, là Hoàng Đại Lục lấy ý từ một câu thơ trong bài thơ “Tặng cho nàng ca kỹ của quan tư không họ Lý”: 司空見慣渾閑事 – Tư Không kiến quán hồn nhàn sự. Hàm ý là, quan Tư Không họ Lý coi mấy việc kinh thiên động địa chỉ là việc thường mà thôi. Xem ra học Dịch Lý, thì lại thêm hiểu biết về cổ văn vậy.
Thông thường cách cục Quan, Sát mà không bị phá, thì mệnh chủ tất là người trong quan trường, điều này là không thể sai được.
Kì thực, phương pháp cổ nhân chia ra làm các Cách Cục, về cơ bản đều là dựa vào đặc trưng của nghề nghiệp mà phân ra vậy, cho nên cổ thư khi luận Cách đều dựa trên xu hướng của nghề nghiệp. Ví như:
<Chân Thuyên> luận Thương Quan cách: “Thương Quan tuy không phải cát thần, nhưng thực ra là tú khí, nên văn nhân văn sĩ đa phần đắc cách Thương Quan vậy”.
<Tinh Vi Thiên> còn nói: “Dương Nhận Thiên Quan có chế, là kẻ nắm hình pháp quân binh”; “Chính Quan Chính Ấn không bị phá, là quan phụ mẫu coi sóc lê dân”; “Tài tinh thuộc Thổ, là quan về lương thực”; “Lộc cách triều dương, là chức vụ hầu cận người quyền quý”.
<Nguyên Diệu Luận> cũng nói: “Nhâm theo Cấn mà Giáp hướng Càn, là kẻ sĩ có thanh danh”; “Tân hướng Dương (阳) mà Ất hướng Quý, là bậc quan văn”.
…
Chỉ là thời xưa việc phân loại nghề nghiệp tương đối đơn giản, chúng ta vẫn cứ cần phải căn cứ vào tình hình hiện tại mà có sự điều chỉnh phủ hợp.
Tính cách quyết định đường đời, nhưng cái gì quyết định tính cách đây?
Thông qua việc phân tích Bát Tự, thì liền có thể hiểu được về tính cách của mệnh chủ.
Cổ nhân trong sách vở đã thường xuyên từ Mệnh Cách mà luận tính cách. Ví dụ như:
<Tướng Tâm Phú>: “Quan tinh hiếu đễ vui tươi, mà hiên ngang, có quí khí, tính cách an ổn mà nhân từ khoan dung, lòng rộng rãi mà giọng nói ấm áp dễ chịu, phong thái đẹp đẽ, mẫn cảm thông minh”; “Ấn Thụ chủ có nhiều trí tuệ, phong thái tự tại có từ tâm”; “Thực Thần sành về ăn uống, cơ thể chắc chắn khỏe mạnh mà ưa ca hát”; “Thiên Quan Thất Sát, khí thế áp tam công (khí thế mạnh bạo), ưu tửu sắc mà thích đấu tranh”…
Ngoài ra lại có <Trích Thiên Tủy> ở thiên <Tính Tình>: “Phàm là Thương Quan Cách, nếu thanh mà đắc dụng, là người cung kính có lễ tiết, hòa ái mà trung trinh tiết nghĩa, là kẻ nhân tài trác việt, học vấn uyên thâm; nhưng nếu Cách bất thuần lại thất dụng, thì kiêu căng ngạo mạn, cương ngạch vô lễ, lấy mạnh hiếp yếu, ham danh chuộng lợi; nếu Dụng Thần Thương Quan lại quá nhiều, thì chí không bền, tâm hay biến đổi”.
<Uyên Hải> phần <Tạp Luận khẩu quyết> đã chỉ ra: “Tài ở Nguyệt Lệnh, cần kiệm hà tiện”, ý muốn nói người có Chính Tài cách, thường thường là người chất phác, giữ lời, không ưa hoang phí. Tất nhiên là phá cách thì không luận như vậy.
Hà Phong: Con cái ứng xử với cha mẹ, ông bà bằng chữ Hiếu. Kẻ làm em ứng xử với anh chị bằng chữ Đễ.
—
Trước tiên phải đọc <Chân Thuyên> một cách tinh mật, ngoài ra có thể tham khảo <Uyên Hải>, <Thông Khảo>, <Thiên Lý Mệnh Cảo>… và rồi là <Tứ Ngôn Độc Bộ?, <Ngũ Ngôn Độc Bộ>, <Nguyệt Đàm Phú>, <Thiên Lý Mã>, <Kim Bất Hoán>…
Hà Phong: Việc mạnh dạn thực hành, nghiệm lý là rất cần thiết, thế nhưng quyết đoán vẫn cứ phải là không ngừng học hỏi, trau dồi, có như vậy thì mới thấy được nhiều vẻ đẹp của Bát Tự nói riêng, và Mệnh lý nói chung.


Để lại một bình luận